
Qua kinh nghiệm bản thân khi tập
tành dịch một quyển sách tiếng Anh sang tiếng Việt, tôi nhận thấy thật là tiếc
nuối 12 năm dài đằng đẵng mài đũng quần ở nhà trường, rồi còn thêm bốn năm rưỡi
đại học nữa, vậy mà chẳng học được bao nhiêu tiếng Việt. Tôi từng vô cùng tự
tin về khả năng tiếng Việt của mình, luôn đạt điểm tuyệt đối môn chính tả, luôn
điểm cao các môn viết. Nhưng, mãi đến bây giờ tôi mới biết cái vốn tiếng Việt của
mình nghèo nàn đến thế nào. Nhân nay đọc được bài “KHÉO DÙNG TIẾNG
VIỆT” của cụ Nguyễn Hiến Lê, tôi xin
chép lại đây cho tất cả mọi người cùng tham khảo.
Tôi đặc biệt viết bài này dành tặng
bài này cho những cây bút đang viết bài cho TEDvn và một người bạn đặc biệt
đang mong muốn thực hiện chương trình gia sư tiếng Việt cho tất cả mọi người –
bạn Diệu Huyền. Bài này tôi chép nguyên văn của tác giả Nguyễn Hiến Lê trong
quyển “7 bước đến thành công” của NXB Văn Hóa Thông Tin, phát hành
ngày 29 tháng 12 năm 2010. Tôi giữ nguyên từng câu, từng chữ, kể cả dấu câu của
tác giả để bạn đọc nắm được văn phong thời bấy giờ (tác giả viết hồi năm 1951).
Tuy nhiên một số lỗi trình bày mà tôi cho là do sai sót của NXB thì tôi xin tự
ý sửa lại. Bạn đọc muốn nghiên cứu sâu hơn xin xem sách gốc. Những chú thích của
tác giả tôi sẽ giữ nguyên. Hết bài tôi xin bổ sung một số ý kinh nghiệm cá nhân
tôi trong quá trình tự học tiếng Việt.
Nếu bạn ngại bài dài quá, chưa đọc
hết ngay được thì xin hãy lưu lại để khi cần thì có tài liệu tham khảo ngay.
KHÉO DÙNG TIẾNG VIỆT
Có những người bề ngoài ra vẻ thầy,
ông lắm, nhưng ta đừng vội xét họ, phải đợi họ nói ít lời rồi mới biết được giá
trị của họ. Biết bao người vào hạng “trí thức” mà lầm “mục kích” với “mục
đích”, “phương diện” với “phương tiện”. Và các bạn chắc còn nhớ báo Phong Hóa hồi trước đã chế giễu một cách
chua cay một ông cử thi Tri huyện mà dùng lầm bốn tiếng “phụ mẫu chi dân” để chỉ
các quan lớn nhỏ, nghĩa là chỉ hạng “dân chi phụ mẫu”.
Sự dùng sai tiếng và ngữ pháp chẳng
những làm cho người khác hiểu lầm ý ta mà còn cho người một cảm tưởng không tốt
về mình nữa. Sự lựa tiếng mà dùng cũng rất quan trọng, nó là cây thước đo sức học
và nền giáo dục của ta. Chưa ai đếm xem Việt ngữ có được bao nhiêu tiếng, nhưng
chúng tôi tưởng ít nhất cũng trên 5, 6 vạn. Vậy mà biết bao người suốt đời chỉ
dùng 5, 6 trăm tiếng thôi, và có nhiều tiếng họ dùng đi, dùng lại hoài, cả
trong những trường hợp khác nhau nữa.
Nếu bạn nói: “Tôi hiểu mà không
nói được” hoặc tả bất kỳ vật gì bạn cũng dùng những “đẹp quá xá, hay lắm, đẹp lắm”
thì thật là dụng ngữ của bạn không phong phú chút nào hết. Không phải cái gì
cũng gọi là “cái” được. Một đóa hoa, một chùm hoa, một giỏ hoa, chứ không phải
là một “cái hoa”. Một căn nhà, một tòa nhà, một ngôi nhà, chứ không phải là một
“cái nhà”… Không phải cái gì cũng “ngộ” cũng “kỳ”. Có tiếng “ngộ”, nhưng cũng
có những tiếng “đẹp, xinh, rực rỡ, lộng lẫy, huy hoàng, bóng bẩy, có duyên,
tươi, nhã… Có những cử chỉ “kỳ”, nhưng cũng có những cử chỉ “lạ lùng, quái dị,
khác thường, lố lăng, siêu quần, lỗi lạc…” Bạn nên thu thập những tiếng hơi đồng
nghĩa với nhau đó, sắp đặt lại, phân biệt từng tiếng, cân nhắc từng ly rồi hãy
dùng. Tài dùng chữ không phải do trời sinh đâu, do công phu luyện tập.
Có bốn loại dụng ngữ:
1.
Loại
dùng để đọc,
2.
Loại
để viết,
3.
Loại
để nghe,
4.
Loại
để nói.
Loại thứ nhất và thứ ba giúp ta
hiểu những ý tưởng của người khác, loại thứ nhì và thứ tư giúp ta diễn đạt ý tưởng
của ta. Hai loại sau này khác hai loại trên. Chẳng hạn bạn có thể hiểu nghĩa những
tiếng huyết hãn, yên hà, bát hoang lục vũ, mà không bao giờ dùng tới, bạn chỉ
dùng những tiếng mồ hôi và máu, mây và khói, tám phương trời, không gian…
Còn nhiều lối phân loại khác nữa,
nhưng cách sau này hoàn toàn hơn cả.
Loại thứ nhứt. Những tiếng cổ như: bèn, chìn, mìn, sinh đồ, cử tử,
môn đệ, thị tì… Đọc những tiếng đó, ta thấy cả một thời xưa hiện lên trước mắt
ta, thời có những cánh xanh, những tàng tía, những thư sinh lướt thướt trong
chiếc áo dài, những tiểu thư e lệ dưới chiếc nón quai thao.
Loại thứ nhì. Những tiếng văn
chương như song thân, nghiêm đường, diễm lệ, để chỉ cha mẹ, cha, đẹp đẽ.
Loại thứ ba. Những tiếng thân
mật thông thường như ba má, bồ (bạn thân), dộng (ăn), sửa lưng (đánh, trị),
no (giầu có), thả (đi chơi lêu lổng), ổng (ông ấy)…
Loại thứ tư. Những tiếng lóng
như thổi (ăn cắp), nhảy dù (làm trái phép), bố (đánh, mắng), đánh phép (cọp
bài), trúng tủ (nhằm bài học rồi hoặc làm rồi), bắn khỉ (hút thuốc phiện), xây
tướng (đánh bài), nừng (ngốc), có đường, có gió (có hi vọng khá), kẻng (bảnh).
Nhưng những tiếng ấy thường thay
loại, đương ở loại trên nhảy xuống loại dưới hoặc ngược lại. Như những tiếng
lóng dùng lâu thì thành những tiếng thân mật.
Ta phải biết những loại đó để
tùy chỗ dùng cho hợp, vì tiếng nói cũng như y phục, có tiếng dùng ở nhà thì được,
mà dùng trong những đám hội họp lịch sự thì không nên. Những tiếng cổ dùng
trong câu chuyện thường ngày thì sái chỗ, nhưng dùng trong một bài để gây lên
cái không khí thời xưa thì lại rất đắc dụng.
DỤNG NGỮ CẦN PHONG
PHÚ
Nếu dụng ngữ của ta phong phú,
ta được những lợi sau này:
- Ta biết đủ tiếng để hiểu những sách báo đứng đắn.
- Ta còn hiểu được những tinh vi trong sự lựa tiếng của tác giả nữa và do đó hiểu rõ thâm ý của họ.
- Ta xét được tác giả hoặc diễn giả có hiểu rõ vấn đề họ bàn không hay chỉ ba hoa để lòe đời. Thứ nhất là hồi này ta thường gặp những nhà chánh trị dùng toàn những danh từ mới, nghe có vẻ thông thái, cao xa lắm mà tư tưởng thì rỗng như trống, nhạt như bã mía.
- Ta có thể suy nghĩ rõ ràng về một vấn đề nào đó và diễn đúng những ý kiến ta muốn phát biểu. Bạn học rộng, tài cao, có nhiều tư tưởng tân kỳ mặc dầu, nếu bạn không diễn đạt được thì cũng không ai biết được trong đầu óc bạn có gì hết.
LÀM SAO CHO DỤNG NGỮ
CỦA TA ĐƯỢC PHONG PHÚ
Tại Âu Mỹ, người ta đã tính rằng
trung bình người lớn dùng 3-500 tiếng, người nào có tài lắm thì dùng được 6.000
tiếng, học sinh trong bình chỉ dùng 2.000 tiếng. Nhưng trẻ em 12 tuổi hiểu được 7.200 tiếng, người lớn trung
bình hiểu được 11.700 tiếng.
Sở dĩ ta phải hiểu được nhiều tiếng
như vậy là vì có những tiếng dùng trong mỗi nghề mà chỉ cần làm nghề đó là đủ
biết, khỏi phải học.
Muốn cho dụng ngữ phong phú
thêm, ta phải:
1.
Đọc
nhiều, bất kỳ loại sách nào, làm quen với nhiều người trong bất kỳ giới nào.
2.
Nghe
những diễn văn hùng hồn của nhiều diễn giả.
3.
Luôn
luôn học thêm, học suốt đời ta, đừng bao giờ ngừng.
4.
Đọc
nhiều sách về từ ngữ.
5.
Thường
tra tự điển.
ĐỌC SÁCH BÁO
Francis Bacon nói: “Có loại sách
chỉ nên nếm, có loại khác chỉ đáng nuốt, có ít cuốn cần phải nghiền ngẫm, nghĩa
là có những cuốn chỉ nên đọc từng đoạn thôi, những cuốn nên đọc qua cho biết và
có một ít cuốn phải đọc hết, siêng năng chăm chú đọc rồi suy nghĩ”.
Đọc sách, ta thường gặp những tiếng
mới. Có những tiếng coi đoạn trên và dưới cũng đoán được nghĩa. Ví dụ tiếng “du
dương” ta có thể không hiểu nghĩa nó, nhưng nếu ta thấy có tiếng “giọng” đứng
trước thì ta đoán được ngay du dương là một tĩnh từ để tả một thứ giọng nào đó.
Những đoán nghĩa như vậy không đủ,
vì ta chỉ mới hiểu được lờ mờ thôi, ta phải tra tự điển để hiểu thêm. Đừng mỗi
lần gặp một tiếng mới lạ, mở tự điển ra, như vậy hết hứng thú. Ta chỉ cần gạch
dưới những tiếng đó để hết chương ta tra nghĩa một lần.
NGHE CÁC DIỄN GIẢ
CÓ TÀI
Những diễn giả có tài thường
dùng nhiều tiếng mà ta còn lạ; nghe họ, ta được cái lợi là lần lần quen với những
tiếng ấy. Nếu nghe rồi mà lại được đọc bài diễn văn đó đăng trên báo hay in
trong sách thì càng ích lợi nhiều nữa.
Tại sao bạn không bắt chước
George Bernard Shaw, một văn hào Anh, nổi tiếng về tài dùng tiếng? Ông tiếp xúc
với đám bình dân, nghe họ nói chuyện và để ý ghi chép những tiếng du dương như
đàn sáo, rực rỡ như kim cương rồi về dùng trong văn của ông. Ta đừng tưởng những
người nhà quê không có gì cho ta học đâu. Lời lẽ của họ nhiều khi bóng bẩy, hóm
hỉnh, tư tưởng của họ nhiều khi thâm trầm và xác đáng mà ta không ngờ.
ĐỌC NHỮNG SÁCH VIẾT
VỀ TỪ NGỮ
Ở Pháp và Anh có nhiều sách
nghiên cứu về từ ngữ. Như Pháp có cuốn Voyage
à travers les mots của Albert Dauzat, ở Anh có cuốn On the Study of Words của Rich and Chenevix Trench. The Romance of Words của Ernest Weekly, Words and their way in English Speech của George L.Kittredge và J.B. Greenough.
Ở nước ta, loại sách đó còn hiếm,
nhưng đọc những cuốn:
Tầm nguyên tự điển của Lê Văn Hòe.
Thành ngữ điển tích của Diên Hương.
Tầm nguyên từ điển của Bửu Kế.
ta cũng học được nhiều về tiếng
Việt.
Chắc các bạn nhận rằng điển tích
có một địa vị quan trọng trong văn học của ta, chẳng những ta phải hiểu mà còn
nên biết cách dùng nó nữa. Biết bao truyện cổ đã được dùng làm điển tích. Đọc
những truyện ấy như được sống lùi lại hàng ngàn năm, mục kích cuộc đời muôn vẻ
nhìn màu của cổ nhân.
TỰ ĐIỂN
Anatole France rất thích tự điển.
Ông thành một trong những nghệ sĩ thành công nhất với nền văn học Pháp, điều đó
cũng không có chi lạ.
Tự điển giúp ta biết cách viết
và dùng mỗi tiếng nghĩa đen, nghĩa bóng, tự loại, ngữ nguyên (étymologie) của
nó, những tiếng đồng nghĩa với nó. Tự điển các ngoại ngữ như Pháp ngữ, Anh ngữ
còn chỉ cách đọc từng tiếng nữa.
CHÁNH TẢ
Chánh tả Việt ngữ dễ hơn chánh tả
Pháp ngữ nhiều vì ta không có phần chánh tả ngữ pháp (orthographe
grammaticale). Sở dĩ ta thấy khó vì:
-
Từ
trước tới nay ta chưa hề học Việt ngữ một cách kỹ lưỡng có hệ thống như học
Pháp ngữ;
-
Ta
thiếu sách, thiếu cả một bộ tự điển đầy đủ;
-
Giọng
nói của ta chưa được nhất luật: cùng một tiếng Bắc Nam phát âm khác nhau. Ngày
nào mà giọng nói nhất luật và tự Bắc chí Nam, ai cũng phát âm theo một giọng
thì đó thì vấn đề chánh tả của ta gần như không còn nữa; lúc đó, tự nhiên ai
cũng viết được gần đúng chánh tả.
Hiện nay vấn đề chánh tả còn là
một vấn đề rắc rối mà môn chánh tả còn là một môn hơi khó. Nhưng ta không thể lấy
lẽ rằng nó khó mà ta viết sai chánh tả được.
Bạn thử cho tôi biết cảm tưởng của
bạn ra sao về “tác giả” hàng chữ sau này:
“Thằn Bít xinh nghĩ dì nó đao”.
Bạn có hiểu gì không? Không. Thì
đây “tác giả” muốn viết rằng “Thằng Bích xin nghỉ vì nó đau”.
Theo tôi, muốn viết trúng chánh
tả, hiện nay không có cách nào khác là thuộc cách viết, và nếu có thể được, nói
cho đúng giọng.
Ví dụ bạn thường lầm những tiếng:
-
dễ (dễ dàng, trái với khó).
-
dể (khinh dể).
-
rể (chú rể, cô dâu).
-
rễ (rễ cây).
Thì các bạn rán chép những tiếng
đó vào một cuốn sổ tay, mở ra coi thường và rán đọc cho trúng:
-
dấu ̃ thì giọng đưa xuống một chút rồi đưa lên.
-
dấu
ˀ thì giọng đưa lên một chút rồi đưa xuống.
-
phụ
âm d không uốn lưỡi.
-
phụ
âm r hơi uốn lưỡi.
Những bạn ở miền ngoài thường lộn
những phụ âm (consonnes) ở đầu như:
-
ch lộn với tr
-
d lộn với r
-
s lộn với x.
Những bạn ở miền trong thường lộn
dấu ˀ với dấu ̃ và lộn những phụ âm ở
cuối như:
-
t với c (dắt trâu viết ra dắc trâu)
-
ng với n (Phan Thanh
Giản viết ra Phan Thanh Giảng)
Riêng về hai ˀ dấu và ̃ , tôi tưởng chúng ta đừng nên quá tin rằng
luật hỏi ngã (huyền, ngã, nặng, ba dấu
đó đi với nhau; không dấu, hỏi, sắc đi với nhau) là cây đũa của bà Tiên, mầu
nhiệm vô cùng, giúp ta luôn luôn bỏ trúng hai dấu đó.
Vì muốn áp dụng luật ấy, phải biết
phân biệt tiếng Hán Việt với tiếng Việt, như vậy phải học tiếng Hán Việt, mà
công học đó gấp bốn, năm lần công học những tiếng dấu ̃.
Những tiếng sau này ít hơn những
tiếng có dấu ˀ và hễ bỏ trúng dấu ̃ thì
tự nhiên bỏ trúng được dấu ˀ.
Trước sau chỉ có độ 800 tiếng có
dấu ̃ trong số đó non nửa là những tiếng
ít khi dùng đến. Vậy biết rõ được khoảng 400 tiếng có dấu ̃ thì mười lần có tới bảy, tám lần ta viết
trúng được ˀ ̃ rồi.
Và thứ nhất là mỗi khi ngờ ngợ về
chánh tả của một tiếng thì phải mở tự điển ra tra liền.
Bạn nên dùng:
Việt ngữ chính tả tự vị của Lê Ngọc Trụ.
Bộ này soạn công phu nhất, có
phương pháp nhất và đầy đủ nhất từ trước tới nay. Tủ sách nào cũng cần phải có
nó.
NGHĨA MỖI TIẾNG
Có nhiều cách định nghĩa:
1.
Định
nghĩa bằng cách dùng một tiếng hơi đồng
nghĩa. Cách này thường thấy trong các loại tiểu tự điển. Như “chia” định
nghĩa là “san ra, sẻ ra, phân ra”.
2.
Định
nghĩa theo phép luận lý. Như “chùa”
là nhà thờ Phật, có tăng, ni ở. “Tự điển” là cuốn sách chỉ cho ta biết nghĩa và
cách đọc, cách viết, cách dùng mỗi tiếng.
Trong phép định nghĩa này, ta sắp những
tiếng thành từng loại với nhau như “chùa” sắp vào loại nhà, “tự điển” sắp vào
loại sách, rồi phân biệt xem những tiếng trỏ cùng một loại khác nhau ở chỗ nào.
3.
Định
nghĩa một cách dài dòng, như đoạn sau
này của Nguyễn Bá Học viết để định nghĩa tiếng “Tự trọng”.
“Người ý khí, tài lực hơn người, không
nương tựa ai, không luồn lụy ai, tự mình quí mình, ai yêu cũng không mừng, ai
ghét cũng không giận, gọi là người tự trọng… Ta phải biết rằng tự trong vốn hòa
hợp với mọi người, vốn kính trọng người tiền bối, vốn giữ pháp luật, vốn trọng
cương thường, có tài năng, có kiến thức, việc đã làm không sợ khó, chí đã định
không hồ nghi, thấy giàu sang không náo nức, phải nghèo hèn không phàn nàn”.
4.
Định
nghĩa bằng một chuyện vặt hoặc một dật
sử.
Ví dụ một người định nghĩa tiếng “quái vật”
như sau:
- Anh có biết con bò cái không?
Người bạn ngạc nhiên, nhưng cũng đáp: Có.
- Anh có biết cây ô-rô không (một loại
cây nhỏ, lá có gai, mọc ở bờ nước)?
Người bạn càng ngạc nhiên hơn nữa, ngập
ngừng đáp: Có.
- Anh có nghe con chim hoàng yến hót bao
giờ không?
- Có.
- Vậy nếu anh thấy một con bò cái ngồi
trên cây ô-rô mà hót như con chim hoàng yến thì cái đó là một “quái vật” đấy.
5.
Định
nghĩa bằng cách phân tích. Phương
pháp này, các nhà hóa học thường dùng. Như “không khí” là một khí có khoảng 1/5
dưỡng khí và 4/5 đạm khí, một chút hơi nước, thán khí…
6.
Định
nghĩa bằng cách tìm ngữ nguyên.
Ví dụ: Chân Trần là họ Châu và họ Trần; hồi
xưa ở bên Trung Hoa, hai họ cùng ở một thôn, đời đời kết hôn với nhau, cho nên
Châu Trần bây giờ nghĩa là thông gia với nhau.
7.
Định
nghĩa bằng cách đối tỉ. Như “vị tha”
là trái với “vị kỷ”, “hèn nhát” trái với “can đảm”.
CÁCH DÙNG TIẾNG
Ta có thể biết chánh tả và nghĩa
của một tiếng mà không biết dùng nó. Tiếng cũng như người vậy, có tổ tiên, đẳng
cấp và cái duyên thầm kín đáo không thể giảng được.
Khi dùng tiếng, ta phải để ý đến
những đặc điểm đó để dùng cho phải chỗ. Ví dụ “a hoàn” là một tiếng cổ, thanh
nhã để chỉ người ở gái. Nếu ta viết hoặc nói: “Xe rác mới đi ngang mà a hoàn của
tôi quên không đổ rác”, thì nghe nó buồn cười làm sao! Hoặc “nghiêm đường” là
tiếng văn chương để chỉ người cha đáng kính trọng mà lại dùng trong câu này:
“Nghiêm đường của tôi “nhậu” rồi ngủ li bì”, thì nghe chướng tai lắm, nếu không
phải là cố ý khôi hài.
Vậy những tiếng cùng đẳng cấp
(hoặc đều là văn chương, hoặc đều là thông thường, hoặc đều cổ, đều mới hết) phải
đi với nhau.
Lại có những tiếng gợi nhiều
tình cảm như “gia đình”, “tổ uyên ương”. “nơi chôn nhau cắt rốn (rún)”. Bạn có
phân biệt được nghĩa những tiếng sau này không?
Nhà quê nơi bùn lầy nước đọng
Dân cày bác nông phu
Làng xóm thôn quê
Nhà lá thảo lư
Khách lạ khách viễn phương
Bạn cũ bạn để chỏm
Đứa nhỏ em bé
Mặt trăng chị Hằng
Những người quen nghe âm nhạc,
chỉ nghe một tiếng cũng phân biệt được là tiếng sao hay tiêu. Họa sĩ Whistler,
trứ danh ở Mỹ, phân biệt được 12 màu trắng. Bạn cũng vậy, nếu bạn chịu luyện tập
thì bạn có thể phân biệt được rõ ràng từng tiếng gần đồng nghĩa với nhau.
Bộ Việt Nam tự điển của hội Khai Trí Tiến Đức không chỉ tự loại của mỗi
tiếng. Kể thì cũng khó. Trái lại trong cuốn Việt
ngữ chánh tả, hai ông Phan Trọng Kiên và Nguyễn Vạn Tòng ghi tự loại của từng
tiếng. Kể thì cũng gượng. Vì ta nên nhớ rằng Việt ngữ, không có phần biến di tự
dạng (nghĩa là không thay đổi lối viết tùy theo số nhiều, số ít, giống đực, giống
cái) cũng không có tự loại nhất định. Cùng một tiếng mà lúc thì dùng làm động từ,
lúc dùng làm danh từ, hình dung từ…
Ví dụ: Tôi vác cần câu đi câu.
Tiếng “câu” sau là động từ, tiếng
“câu” trước đi với tiếng “cần” thành một danh từ.
và: Trăng rất trăng là trăng của tình duyên. (Xuân Diệu)
Tiếng “trăng” thứ nhất là danh từ,
tiếng “trăng” thứ nhì là hình dung từ.
NGỮ NGUYÊN
Tìm nguồn gốc một tiếng là một
việc nhiều khi khó khăn nhưng luôn luôn có hứng thú. Ta nên phân biệt:
a)
những
tiếng Việt – số này ít – như: ăn, mặc, một, hai, đi, đứng, nũng nịu, trái chuối,
con chó… Những tiếng đó hoàn toàn của ta, không do một tiếng ngoại quốc nào ra
hết.
b)
những
tiếng Hán-Việt, do tiếng Hàn mà đọc theo giọng của ta như: tâm, can, dụng, đắc…
c)
những
tiếng Việt hóa, tức những tiếng Hán-Việt được bình dân thường dùng rồi thay đổi
ít nhiều như tim, gan, dùng, được…
Tiếng Việt có thể gọi là hài
thanh được, nghĩa là dùng âm thanh để diễn ý. Như những tiếng “lơ thơ”, “gập ghềnh”,
“khúc khuỷu”, “buồn rười rượi”… chỉ nghe thôi, ta cũng đoán được nghĩa ra sao.
Tiếng Trung Hoa cũng có phần hài thanh nhưng vốn là để tượng hình, như chữ “nhật”
là mặt trời là một vòng tròn trong có cái chấm, chữ “đan” là buổi sớm có hình mặt
trời ló khỏi chân trời.
Hiểu đặc tánh và những luật biến
âm(1) (xin coi bộ Việt ngữ
chính tả tự vị của ông Lê Ngọc Trụ) ta sẽ tìm được nguồn gốc nhiều tiếng và
một khi đã biết nguồn gốc rồi thì ta hiểu rõ và nhớ lâu nghĩa của nó.
Có những tiếng mượn của tiếng
Pháp: xà bông, gác (lính gác, nhà thuốc gác), nhà ga... Lại có những tiếng do điển tích
như: tang thương, tào khang, ả đào… Lúc buồn, bạn nên đọc những cuốn Tầm nguyên từ điển của Bửu Kế, của Lê
Văn Hòe và Thành ngữ điển tích của
Diên Hương. Lối tiêu khiển đó vừa bổ ích, vừa thú vị.
Bạn có biết tiếng “đồng hồ” do
đâu mà ra không? Đồng hồ là cái hồ bằng đồng có lỗ thủng nhỏ ở đáy, để nước
trong hồ rỉ xuống, do đó mà đo được thì giờ. Ngày nay cái máy để xem giờ mà bạn
đeo ở cổ tay cũng gọi là đồng hồ, mặc dầu nó không phải là một cái hồ mà làm bằng
thép nhiều hơn là bằng đồng.
Bạn có biết tại sao trái nhau gọi
là “mâu thuẫn” không? Vì “mâu” là một binh khí tựa cái giáo, “thuẫn” là cái mộc
(cái khiên). Công dụng của hai thứ binh khí đó trái ngược nhau: cái thứ nhất
dùng để đâm, cái thứ nhì dùng để đỡ.
Mỗi tiếng đều có nguồn gốc của
nó. Hiểu rõ rồi ít khi ta dùng sai.
NHỮNG TIẾNG ĐỒNG
NGHĨA
Nhiều người bảo tiếng Việt nghèo. Về vài phương diện, lời đó đúng,
như: những danh từ khoa học ta hoàn toàn phải mượn của nước ngoài và cũng mới
mượn được chút ít thôi. Những tiếng trừu tượng của ta cũng ít, phải mượn của
Trung Quốc. Nhưng nhiều khi tiếng ta cũng rất phong phú. Chắc bạn đã nghe nhiều
người cử ra thí dụ sau này. Tiếng Pháp chỉ có một tiếng “Porter”. Mà tiếng Việt
thì có cả chục tiếng như: mang, ẵm, bế, bồng, bưng, cầm, cắp, cáng, cõng, chở,
đem, đội, đeo, đèo, gánh, gồng, kèm, khênh, khiêng, khuân, mặc, ôm, quảy, tải,
vác, võng, xe, xách, thồ…
Tiếng Pháp chỉ có mỗi một tiếng
“Noir” mà tiếng Việt có: đen, mun, mực, ô, hắc.
Tiếng “bọn” cũng vậy có cả chục
tiếng đồng nghĩa như: bầy, bè, đám, đàn, đảng, đoàn, hội, lũ, nhóm, phe, phường,
toán, tốp, tụi, vạn…
Bạn có phân biệt được những tiểu
dị trong các tiếng đó không? Không! Vậy tôi xin giới thiệu với bạn cuốn Việt ngữ tinh nghĩa từ điển của ông Long
Điền Nguyễn Văn Minh, một cuốn sách viết công phu.
Và bạn cũng nên mỗi khi gặp mỗi
tiếng lạ trong những sách có giá trị - nhất là trong những cuốn truyện Thúy Kiều, Chinh phụ ngâm khúc, Cung oán
ngâm khúc, Hoa tiên, Bích câu kỳ ngộ, Đại Nam quốc sử diễn cả: Chép nga cả
câu có tiếng đó để hiểu rõ cách dùng nó.
DÙNG TIẾNG
Một tiếng mà bạn hiểu nghĩa chưa
hẳn là một tiếng mà bạn biết dùng. Ông Mark Twain, một văn hào Anh, cho rằng
khi bạn đã dùng một tiếng ba lần rồi thì tiếng đó mới thật của bạn.
Trên kia tôi đã nói mỗi tiếng có
một đẳng cấp, giá trị riêng. Nhưng khi dùng thì không có tiếng nào quí hơn tiếng
nào hết. Một tiếng rất thông thường mà khéo dùng còn hay hơn một tiếng văn
chương mà vụng dùng.
Như trong câu:
“Lơ
thơ tơ liễu buông mành”
tiếng
nào cũng là những tiếng thông thường hết mà thi sĩ khéo ghép nhau lại, làm nổi
bật một cách êm dịu, đẹp đẽ, nên thơ làm sao!
Vậy có khi ta phải dùng những tiếng
cổ, có khi phải dùng những tiếng mới, có khi lời văn hoa mỹ, có khi lại nên
bình dị. Cần nhất là lúc nào cũng phải rõ ràng, nếu có thể dùng những tiếng Việt
hoặc Việt hóa thay những tiếng Hán-Việt thì càng hay. Nhưng ta cũng nên nhớ rằng
tiếng Việt chưa thể tách rời cái gốc Hán tự được, cho nên phải dùng tiếng
Hán-Việt, dù là tiếng mới đi nữa thì cũng cứ dùng. Bây giờ là mới, dùng lâu nó
sẽ quen tai, sẽ hóa cũ. Cách đó là một trong những cách làm giàu Việt ngữ.
Sau cùng, tôi tưởng không cần phải
nhắc rằng đừng nên chêm tiếng Pháp hoặc tiếng Anh vào trong câu chuyện bằng tiếng
Việt, nhất là trong những tiếng “vous, toi, lui, miss, madame” nghe lố lăng lắm.
Khi nghe một người chưa quen biết
kêu tôi bằng “vous” trong một câu chuyện bằng tiếng Việt, thì tôi có cảm tưởng
rằng người đó thiếu giáo dục. Mong rằng cảm tưởng của tôi sai.
TÌM TIẾNG THẬT ĐÚNG
Chắc các bạn còn nhớ Giả Đảo, một
nhà sư đời Đường cưỡi lừa đi thăm bạn, vừa đi vừa nghĩ ra được hai câu thơ:
Điếu
túc trì biên thọ,
Tăng xao nguyện hạ môn
nghĩa là:
Chim đậu cây bến nước,
Sư gõ cửa dưới
trăng.
Nhưng, Giả Đảo lưỡng lự không biết
nên hạ tiếng “thôi” là đẩy hay tiếng “xao” là gõ, cho nên vừa đi vừa đưa một
tay ra gõ rồi lại đẩy, mà không để ý đến xe của Hàn Dũ đi qua. Hàn Dũ, một danh
sĩ và một đại thần đương thời, thấy vậy, sai lính bắt lại hỏi, biết chuyện rồi
khuyên hạ tiếng “xao”. Hai người quen nhau từ đó, và hai tiếng “thôi xao” đã được
dùng để chỉ sự lựa chữ, sự đẽo gọt câu văn.
Lần khác, Giả Đảo làm được hai
câu thơ:
Độc
hành đàm để ánh
Sác tức thụ biên thán
(nghĩa là:
Đi một mình, bóng mình chiếu xuống
đáy đầm
Thỉnh thoảng dựa
thân cây mà thở than.), mà phải than:
Nhị
cú tam niên đắc.
Ngâm thành, song
lệ lưu.
Tri âm như bất
thướng.
Qui ngọa cố sơn thu.
nghĩa là:
Ba năm mới làm được hai câu thơ,
Ngâm xong, hai dòng lệ chảy xuống.
Bạn tri âm nếu không thưởng thức,
Thì đành về nằm ở
nơi ẩn cũ, trong núi.
Ba năm mới làm được hai câu thơ
bình thường đó thì cũng quá, chả trách người đời chê Giả Đảo là quái đản cuồng
vọng. Gọt đẽo câu văn đến như vậy thì không nên, nhưng trong khi viết, cũng nên
nhớ lời sau này của Gustave Flaubert khuyên học trò của ông là Guy de
Maupassant (cả hai đều là danh sĩ ở Pháp, đều ở trong phái tả chân và nổi tiếng
về tài dùng chữ rất đúng):
“Dù người ta muốn nói điều gì đi
nữa, cũng chỉ có mỗi một tiếng để diễn điều đó thôi, chỉ có mỗi một động từ để
làm cho điều đó hóa ra có sinh khí và mỗi một tĩnh từ để tả nó. Cần phải kiếm
được tiếng đó, động từ đó, tính từ đó và đừng lấy làm mãn ý khi mới kiếm được
những tiếng tương tự.
Những lời khuyên dưới này giúp bạn
tìm tiếng đúng.
1.
Lựa một tiếng cụ thể. Trừ những khi phải nói đến cái gì trừu tượng
như: triết lý, tiến hóa, văn minh, văn hóa… còn thì phải rán kiếm những tiếng gợi
những hình ảnh vẽ ra trước độc giả, làm cho họ như trông thấy, nghe thấy, ngửi,
rờ, nếm được. Như vậy họ mới hiểu rõ, thưởng thức được tư tưởng của bạn.
Những thí dụ dưới dây chỉ cho bạn
thấy tài dùng chữ của vài thi sĩ và văn sĩ:
- Dưới dòng nước chảy trong veo
Bên cầu tơ liễu bóng chiều
thướt tha
- Vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh.
- Sương
in mặt, tuyết pha thân
Sen vàng lững thững như gần như xa.
- Sè sè nấm đất bên đàng
Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.
- Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng.
Những câu đó đều của Nguyễn Du:
thực là “thi trung hữu họa”.
Những tiếng sắp xiên đó chính là
những nét vẽ tuyệt diệu.
Lại như đoạn sau này nữa:
“Đứa trẻ sợ hãi quá, dúm cả hai chân hai tay lại như một con mãn sắp bị quăng xuống đất”. (Nguyễn Tuân)
“Chàng gà trọi đứng thẳng người,
hai cái cẳng chân cứng và lẳn như hai
thanh sắt, phủ đầy những vẩy lớn sắc
vàng bóng. Đôi bắp thịt đùi chắc nịch,
gân lên những thịt… Đầu chàng to và hung dữ như một chiếc nắm đấm. Cái cổ bạch
và hai bắp đùi để lộ ra. Da chàng đỏ
găng, đỏ hắt, đỏ tía, đỏ bóng như có quét một lớp sơn thắm”. (Tô Hoài)
“Cái mặt của thị Nở thật là một
sự mỉa mai của Hóa công: nó ngắn đến nỗi người ta có thể tưởng tượng bề ngang
hơn bề dài, thế mà hai má lại hóp vào, mới thật là tai hại: má phính phính thì
mặt thị lại còn được hao hao như mặt lợn… Cái mũi thì vừa ngắn vừa to, vừa đỏ,
vừa sần sùi như vỏ cam sành, bành bạnh
muốn chen lấn nhau với những cái môi
cũng cố to cho không thua cái mũi. Có lẽ cố quá cho nên chúng nứt nở như rạn ra. Đã thế, thị lại ăn trầu
thuốc, hai môi dầy được bồi thêm một lần; cũng may quết trầu quánh lại, che được cái màu thịt trâu xám ngoách. Đã thế, những
cái răng rất to lại chìa ra…” (Nam Cao)
2.
Đừng dùng những tiếng mơ hồ. – Đừng gọi nhà ngân hàng là một lâu đài,
và nếu bạn muốn nói tới chiếc xe thổ mộ thì đừng dùng tiếng “xe ngựa”.
3.
Đừng nói ở chung quanh hay nói quá. – Con mèo thì gọi nó là con mèo, đừng kêu
là “ông Kẹ của loài chuột”. Lối tả người ăn mày và người bù nhìn của Lê Thánh
Tôn bây giờ không hợp thời nữa.
4.
Đừng dùng những tiếng khách sáo. – Có nhiều tiếng lúc mới dùng thì rất
khéo, rất lạ, nhưng về sau nhiều người dùng quá, thành ra sáo, như: mảnh kim –
ô, vầng ngọc thố… Phải tránh những tiếng đó.
5.
Phân biệt những tiếng lóng và những tiếng
thanh nhã. – Trên kia
tôi đã chỉ một vài tiếng lóng. Bất kỳ nghề nào cũng có những tiếng ấy. Nghề lái
xe vận tải có những tiếng: “gió lớn” (có nhiều khách), “bị cò mổ” (bị lính phạt).
Nghề buôn bán có tiếng “nhẩy dù”
(buôn lậu). Trong giới học sinh có những tiếng “trúng tủ”, “đánh phép”… Không
thể nào diệt những tiếng đó được hết. Chẳng những vậy, còn có nhiều tiếng được
mọi người dùng, thành tiếng thông thường, mất tính cách lóng đi, như tiếng “nhậu”,
mới đầu là một tiếng lóng của bọn say sưa, bây giờ đã được văn nhân, thi sĩ
dùng rồi. Nhờ vậy dụng ngữ của ta mới mỗi ngày mỗi giàu thêm.
Nhưng cũng không nên để tiếng
lóng của nghề nghiệp lan tràn vào những khu vực khác, cho nên ta phải thận trọng
lắm khi dùng một tiếng ấy. Chỉ khi nào nói chuyện với những người trong nghề hoặc
không còn dùng tiếng nào khác diễn tả ý ta một cách đúng hơn được, thì mới nên
dùng nó.
6.
Hiểu rõ những tiểu dị giữa những tiếng đồng
nghĩa. – Muốn dùng tiếng
cho đúng, phải biết rõ nghĩa những tiếng đồng nghĩa và nên có cuốn Việt ngữ tinh nghĩa tự điển của Nguyễn
Văn Minh.
Đừng nói “Tôi nhìn một cách âu yếm”,
mà phải nói tôi “ngắm”; đừng nói “nghiêng mắt mà nhìn”, phải nói “nghé trông”;
đừng nói “tôi thình lình thấy”, phải nói “tôi nhác thấy”… Còn những tiếng khác cũng
đồng nghĩa với “thấy”, như: trông, nom, nhìn, nhận, dòm, liếc, xem, coi… Bạn có
phân biệt được hết những tiếng đó không? Rồi xin bạn kiếm những tiếng đồng
nghĩa với “đổi”, “cắn”, “ăn”, “chép”, “nói”.
Ông Robert Louis Stevenson mỗi
khi đọc một đoạn văn hay, rán bắt chước lối văn ấy. Cách đó có hại, vì như vậy
văn ta thiếu phần đặc sắc (bắt chước người thì khó hơn được người), nhưng trước
khi có một lối văn đặc sắc, chúng ta đều phải học lối hành văn của cổ nhân hoặc
đàn anh đã.
Một việc nữa rất ích lợi là tập
dịch những sách ngoại quốc và rán tìm tiếng Việt để diễn đúng tư tưởng của tác
giả.
Sau cùng, ta thường nên tập nói.
Nhiều người viết rất trôi chảy hoa mỹ mà nói thì lúng ta lúng túng, như ríu lưỡi
lại, mỗi khi đứng trước một đám đông. Nhưng mặc, cứ tập nói đi, lần đầu còn rụt
rè, sợ sệt, ít lần sau sẽ quen.
Học tập cho dụng ngữ được phong
phú, không phải là công việc một năm, hai năm, mà là công việc suốt đời, luôn
luôn phải gắng sức. Không lúc nào được ngừng hết. Vitor Hugo, tác giả bộ Les Misérables, bắt đầu học tiếng Hi Lạp
hồi năm mươi tuổi. Nhiều bạn chưa tới tuổi đó; vậy không thể nói rằng muộn quá
rồi không học được nữa. Sau cùng, phải kiên nhẫn. Edison nói: “Thiên tài chỉ có
năm phần trăm là cảm hứng, còn chín mươi lăm phần trăm là công phu”. Những danh
nhân còn phải tốn công như vậy, huống hồ chúng ta.
VIẾT VĂN CHO ÊM ĐỀM
Người Pháp nghe chúng ta nói tiếng
Việt có cảm tưởng như chúng ta ca hát vậy vì tiếng của chúng ta có đủ những âm
ngắn (như ất), dài (như mười), cao (như chính), thấp (như bột),
trầm (như quả: có dấu ˀ ), bổng (như viễn: có dấu ̃ ).
Những âm của ta lại chia ra hai bực: bằng và trắc. Ta
nghiệm thấy trong thơ của ta, như thơ “lục bát”, nếu bỏ những tiếng lẻ đi, chỉ
kể những tiếng chẵn thì cứ một tiếng bằng lại tới một tiếng trắc, như:
-
Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ
Tài, chữ Mệnh khéo là ghét nhau.
Trong câu sáu: tiếng thứ hai là
bằng: tiếng thứ tư là trắc; tiếng thứ sáu là bằng. Trong câu tám: tiếng thứ
hai, bằng; tiếng thứ tư, trắc; tiếng thứ sáu và tiếng tám, bằng.
Ông Hồ Hữu Tường, trong cuốn Lịch sử văn chương Việt Nam cho đó là khổ nhạc và ông nói: trong
thơ “lục bát” cứ hai tiếng thành một khổ, còn trong lối thơ tám tiếng thì một
khổ nhạc là ba tiếng:
Nay
là lúc mang sức trâu mãnh liệt,
Giẫm
gót cày, tàn phá hết ruộng nương.
Khơi
mạch sống ở trong lòng đất chết,
Mở
đường lên cho hạt thóc đang ương.
Trong khi nói, ta khó sắp đặt những
tiếng cho du dương được. Nhưng khi viết, ta nên chú trọng đến những đặc điểm ấy.
Nếu không chia mỗi câu ra thành nhiều khổ nhạc bằng với trắc được, thì cũng nên
lựa tiếng sao cho khi đọc lên, người ta nghe thấy cao, thấp, bổng, trầm và có một
cảm tưởng êm đềm, thú vị.
Tất nhiên là cũng có khi phải hùng hồn, phải dùng những
tiếng mạnh và kêu, nhưng đừng rỗng. Có khi câu văn lại phải có điệu trúc trắc,
khó đọc. Ai chẳng nhận rằng câu:
Vó
câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh
của
Nguyễn Du hay ở những tiếng: khấp khểnh
và gập ghềnh.
MỘT BÀI TẬP VỀ DỤNG
NGỮ
Ai cũng nên biết những tiếng sau
này. Trước hết bạn phải đánh dấu những tiếng bạn cho rằng biết rồi, sau bạn tra
tự điển kiểm điểm xem nghĩa những tiếng đó có đúng với nghĩa của bạn cho nó
không, nếu đúng thì lấy bút chì gạch bỏ đi. Còn những tiếng khác, bạn kiểm và
ghi lại:
* ngữ nguyên của nó.
* những nghĩa thông thường của nó.
* những tiếng đồng nghĩa với nó.
Sau cùng, dùng mỗi tiếng đặt ra
một câu:
Ác nghiệp Ẩn vi Bao
hàm
Án ngữ Ba hoa Bặt
thiệp
Áp đảo Bã chã Bân
bách
Ăn xổi Bách chiết Bất
thần
Âm phần Bảnh chọe Cảm
khái
Cảm kích Kèm nhèm Nượp
nượp
Cương thường Kê cứu Ngang
nhiên
Cân truyền Kết tinh Nghi tiết
Chấp kinh Kiếp lược Ngỗ
ngược
Chí thú Kiến văn Ngụy
Du lãm Khán đài Nhu
cầu
Chu đáo Khách tình Nhan
nhản
Duy vật Khánh tận Ỏn
ẻn
Dưỡng sinh Khảo hạch Ỡm ờ
Đãi bôi Lao lung Phiếm
du
Đài điếm Lảo thảo Phó
nhậm
Đa mang Lỗi lạc Phôi
thai
Đam mê Lăng loàn Phối
hợp
Đao phủ Lịch lãm Phương
diện
Gờm Lủ Phương
tiện
Giai thoại Lục bộ (2 nghĩa) Quá độ (2 nghĩa)
Giới ý Lữ hoài Quá
trình
Hạnh lạc Lữ đoàn Quan
báo
Hàm tiếu Ma luyện Quan
tái
Hàm oan Manh nha Quan
hà
Hàn ôn Mạo (4 nghĩa) Quyền
biến
Hào hoa Mặc tưởng Rờm
Hiếu chủ Minh chủ Rười
rượi
Hiệu chính Nao nao Sách nhiễu
Hỏa tốc Núc ních Sáp
nhập
Hoàn lương Nuối Súc
tích
Tam sinh Trách bị Vạn
nhất
Táng tâm Trắc nết Vân
mòng
Tiền đồ Trì thủ Võ
đoán
Tích cực Trào lưu Xô
bồ
Tiêu cực Truy nguyên Xổi
Tuyệt bút (2 nghĩa) Ủy khúc Xử nử
Tháu Huyên náo Xuyên
tạc
Thất thố Ức đoán Tị
hiềm
Thuần phong Ưu đãi …………..
NHỮNG LỖI THÔNG THƯỜNG
Làm sao kể hết được những lỗi
thông thường! Vậy ở dưới đây tôi xin kể ra một vài loại thôi. Ngoài những lỗi về
chánh tả và sự sai tiếng (như mục kích
lầm với mục đích, xán lạn thì nói là sáng lạng, phương tiện
thì viết là phương diện…) mà trên
kia tôi đã bàn tới, còn những lỗi rất thường sau này:
1.
Nói
nhiều mà ý rỗng, như:
“Ngày nay là một buổi chiều của hoàng
hôn”.
2.
Phải
cẩn thận trong khi so sánh.
Đừng nói “một màu rực rỡ và mạnh mẽ như
màu bông phù dung”. Màu đỏ của bông phù dung rực rỡ thì còn tạm được, chứ mạnh
mẽ thì không.
3.
Đừng
mỗi mỗi xuống hàng, như:
“Mỗi tháng ba kỳ,
“Mồng mười, hai mươi và ba mươi.
“Có những đêm thanh vắng,
“Từ dưới sông đưa lên”.
4.
Khi viết những câu dài phải coi chừng đừng
để có đầu mà cụt đuôi, như
trong câu này:
“Ở trong tình thế hiện tại mà thợ thuyền
chỉ cần sao ăn cho đủ no, mặc cho đủ ấm, khi ốm đau có thuốc uống, khi mệt nhọc
được nghỉ ngơi, mà điện còn đắt, nước cũng phải mua, những vật liệu để cất nhà
có khi kiếm không ra, mà không một ai chắc chắn về tương lai, chỉ sống lây lất
từng ngày một”.
5.
Tránh
lối hành văn hơi Tây.
Đừng nói: “Bệnh đó gây ra bởi sự thiếu
ăn”. Lối hành văn này, tuy đã được nhiều người dùng, nhưng nghe vẫn chưa được
êm tai. Nên nói: “Bệnh đó do thiếu ăn”.
Đừng viết: “Được dìu dắt bởi nhiều ông thầy
giỏi”, mà viết: “Được nhiều ông thầy giỏi dìu dắt”.
6.
Phải
cẩn thận mỗi khi dùng tiếng “là” ở đầu câu:
“Là gia đình giàu sang, cô được qua Pháp
học từ hồi nhỏ”. (Một cô mà sao thành gia đình được?) Chúng tôi biết ngữ pháp
Việt Nam chưa được qui định, ta khó biết được thế nào là viết trúng, nhưng ta
có thể bắt chước các nhà văn có tên tuổi, và ta cũng có thể viết rồi đọc lớn tiếng
cho một người khác nghe xem có rõ ràng, xuôi tai không vì ít khi ta nhận được lỗi
của ta lắm. Đó là cách làm thơ của Bạch Cư Dị đời Đường. Họ Bạch cứ lần viết
xong một bài thơ, đọc lên cho người vú già nghe, câu nào người đó không hiểu
thì Bạch sửa lại liền. Nhờ vậy mà Bạch được đời sau suy tôn là tổ của lối thơ Bạch
thoại, ngang hàng với Đào Tiềm.
Sau cùng, chúng tôi nhắc lại rằng văn của
ta đặt theo lối văn xuôi. Ví dụ: Tôi đi săn bắn về. Việc nào xảy ra trước thì
nói trước, cho nên phải đặt tiếng “đi” lên trước, hai tiếng “săn bắn” ở sau và
tiếng “về” ở sau cùng, theo thứ tự ba hành động đó. Ta không thể nói như Pháp:
“Je rentre de la chasse” được.
Nhờ đặc điểm đó, ta tránh được nhiều lỗi
ngớ ngẩn, nhiều câu “tây” quá.
Chú
thích:
(1) Như:
-
ư, ơ, â đối lẫn với nhau: chưn, chân;
nhơn, nhân; gởi, gửi.
-
b, m, v đối lẫn với nhau: be, ve; bẹp, mẹp.
-
s, th thay đổi nhau: sơ, thưa, sương,
thương.
-
dấu nặng thay dấu hỏi, dấu sắc thay dấu hỏi:
đãi đợi; kiển, kén, v.v…
(Hết)
-----------------------
Bài
của cụ đã dài, nhưng thôi thì xin các bạn rán đọc thêm chút nữa vì những kinh
nghiệm dưới đây tôi sẽ tóm tắt vài ý thôi, nhưng sẽ giúp được nhiều trong quá
trình các bạn soạn thảo văn bản hành chính, thư từ, hay thậm chí là viết sách.
Tôi xin nói
rằng do tiếng Việt của chúng ta cực kỳ uyển chuyển và tự do, nên chúng ta có thể
tận dụng sự tự do đó để viết theo đúng ý đồ khi dùng những từ ngữ theo khuôn
phép của riêng mình. Tôi sẽ điểm qua một số chỗ mà tôi thấy quan trọng:
- Lỗi ký hiệu: Tôi đã đọc rất nhiều bài viết, thư từ, e-mail,… của nhiều bạn tuổi xấp xỉ tôi, và tôi ngạc nhiên là các bạn rất “ẩu” trong việc viết lách. Một số lỗi gây khó chịu mà tôi thường xuyên gặp phải có thể kể đến như dưới đây.
-
Lỗi cách trắng: thường là thừa cách trắng. Ví dụ: một cây
làm chẳng nên non. Nhìn qua
thì cũng được, nhưng người khó tính sẽ thấy ngay, và qua đó đánh giá chúng ta
chưa đủ chuyên nghiệp. Lỗi cách trắng còn thể hiện ở dấu câu nữa. Ví dụ: Anh ấy hỏi tôi : “ Chừng nào thì cậu đi thi
?” Trong ví dụ này có tới 3 lỗi cách trắng: giữa chữ tôi và dấu hai chấm không nên có cách trắng, giữa dấu nháy kép mở
câu và chữ Chừng cũng không nên có,
giữa chữ thi và dấu chấm hỏi cũng vậy.
Ngoài ra còn lỗi cách trắng ở những dấu mở đóng ngoặc đơn, nháy đơn,… Nên chú ý
để văn bản của chúng ta được hoàn hảo.
-
Lỗi gạch nối: Đối với mệnh đề bổ sung thì dấu gạch nối nên cách
trắng, đối với từ liên kết thì không nên để cách trắng. Ví dụ: Từ Hán-Việt được những nhà nho – những người
trí thức theo lời dạy của Khổng Tử - sử dụng rất nhiều trong cả văn nói và văn
viết.
-
Ký tự đặc biệt như %, oC,… thì tùy trường hợp mà ta
viết bằng ký hiệu hay bằng chữ. Ví dụ một câu nói nhất trí thì ghi là “trăm phần trăm” nhưng trong một tỷ lệ để
báo cáo thì nên ghi là “100%”.
-
Tương tự các chữ số về tuổi tác, số lượng, cân nặng,… cũng tùy
trường hợp mà viết bằng chữ hoặc bằng số, tùy dụng ý của tác giả. Nhưng nếu con
số là lẻ và quá dài thì luôn ghi bằng số (như 1.234 chẳng hạn). Không nên viết
là 7 giờ rưỡi mà nên viết là bảy giờ rưỡi. Không nên viết là ở độ tuổi 40 mà nên viết ở độ tuổi bốn mươi.
-
Lỗi không đồng nhất trình bày: về lùi đầu dòng, viết hoa viết
thường, sử dụng từ ngữ vùng miền, tên riêng, và thường nhất là lỗi đánh số các
mục, các đoạn không có hệ thống trong toàn bài.
-
Lỗi canh trái: Thông thường chúng ta nên dùng kiểu soạn thảo
canh đều (Justify). Trong công cụ soạn thảo MS Word có phím tắt là Ctrl + J.
- Tên tác phẩm (tên sách, tên bài báo, tên vở kịch, tên bài hát, tên phim, tên tác phẩm nghệ thuật,…) đều phải in nghiêng. Tên tổ chức thì thường không in nghiêng, trừ tên các giải thưởng, các tờ báo.
- Trích dẫn: Các trích dẫn đặt trong bộ đôi nháy kép (“…”). Nhưng có một số vấn đề mà tôi ví dụ mẫu như sau:
-
“Chả khó khăn lắm đâu,” anh ấy nói, “tôi có thể lo liệu được.” (Dấu
ngoặc kép đóng đặt sau dấu phẩy và dấu chấm câu. Đoạn bổ sung ở giữa được ngăn
cách bằng dấu phẩy.
-
“Anh ấy ‘chảnh’ dữ lắm!” (Trong đoạn trích dẫn bằng dấu nháy kép
mà có từ hoặc cụm từ đặc biệt nữa thì dùng dấu nháy đơn.)
-
Trích dẫn quá dài thành nhiều đoạn, đối với phong cách Việt Nam
thì cũng chỉ cần một cặp nháy kép thôi. Tuy nhiên, phong cách phương Tây thì có
hơi khác, tôi cho là rối hơn, nên tôi khuyên các bạn nên xài cách của ta thì
hơn. Tức là cứ mở nháy kép là bắt đầu trích dẫn, đóng nháy kép là hết đoạn
trích dẫn.
-
Trích dẫn có thể in nghiêng nếu là thơ, lời bài hát, hoặc đoạn nội
dung mang tính nghệ thuật, hoặc cần nhấn mạnh, hoặc cần mang tính “thơ” hơn
trong toàn bài. Đã in nghiêng rồi thì ta có thể dùng hoặc không dùng nháy kép
cũng được. Trong đoạn in nghiêng mà có tên tác phẩm thì in đậm.
- Tên riêng nên dịch/phiên âm hay không?
-
Ví dụ như ta thường viết là Luân Đôn thay vì London, nhưng lại
ít khi viết Nữu Ước thay cho New York. Có khi ta nói tờ Thời báo Luân Đôn để chỉ tờ The
Times, có khi lại để nguyên tên tiếng Anh. Chúng ta chưa có (và chắc cũng sẽ
không có) quy định nào về vấn đề này. Vậy nên theo tôi, chúng ta nên dùng từ
nào mà nhiều người biết đến thì hơn. Ví dụ như hiện nay hiếm có ai lại nói là Tân Gia Ba đã thịnh hơn nước ta nửa thế kỷ,
mà họ sẽ nói là Singapore. Đa số những tên riêng tiếng Hoa đều có từ tiếng Việt
tương đương, ta nên dùng, không nên dùng phiên âm hoặc tên tiếng Anh. Chẳng hạn
như nói là Lý Tiểu Long thì ai cũng biết, nhưng nói Bruce Lee thì hiếm người hiểu.
-
Nhưng đối với những thứ tiếng người Việt hiếm gặp (như tiếng
Thái, tiếng Nga,…) thì chúng ta nên tùy trường hợp mà đưa từ gốc trước rồi
phiên âm, giải nghĩa hoặc phiên âm xong rồi mở ngoặc đơn ghi từ gốc rồi giải
nghĩa).
-
Những tên cơ quan, đoàn thể, tổ chức, chính quyền, bộ, ban,
ngành nếu chúng ta có từ tiếng Việt để chỉ thì nên dùng (thường là từ chuyên
môn, ít thông dụng). Nếu ta không biết những từ đó, thì có thể nói ông này là
người đứng đầu ở một ban mà họ gọi là gì
gì đó, ban này có trách nhiệm thế này thế này, nước ta chưa có ban nào như vậy
cả.
- Một số từ chỉ tước hiệu thì ta nên cố tra từ tương đương trong
tiếng Việt để dùng. Ví dụ: Sir, Your Highness,…
- Đặc biệt là tên các từ của các cơ quan thuộc chính quyền thì ta
phải cố gắng hết sức để tìm từ tương đương, không thể dịch sát nghĩa được. Bởi
có nhiều tổ chức mà tên tiếng Việt một đằng, nhưng tên tiếng Anh một nẻo là
chuyện hoàn toàn bình thường.
- Đại từ nhân xưng: luôn là một trở ngại rất lớn trong việc dịch thuật. Chúng ta không có những từ để chỉ một người chị hoặc em gái cùng một nửa huyết thống, hay không có từ nào chỉ chung cho anh em trai, chị em gái, ông bà cả nội lẫn ngoại,… Chúng ta lại phải xác định rất rõ mối tương quan giữa hai người đối diện khi nói chuyện với nhau, mỗi lúc lại đổi cách xưng hô khác nhau cũng thể hiện sắc thái ý nghĩa khác nhau. Ví dụ lúc nóng giận thì chồng xưng hô với vợ là “tôi với cô”, nhưng bình thường thì gọi “anh với em”, âu yếm kiểu gia đình thì lại gọi “mình ơi”, “bà nó ơi”,… Vậy vấn đề này cần xử lý khéo léo và tinh tế, thường ta phải tìm hiểu về mối quan hệ của họ nếu muốn dịch thuật thành văn bản chính thức. Nếu không, ta phải dùng cách thủ pháp viết lách tránh dùng đại từ nhân xưng, hoặc giải thích mối quan hệ của họ dài dòng một tý. Ví dụ: “Her brother want to visit us” thì dịch là “Một người anh em trong gia đình cô ấy muốn đến thăm chúng tôi.”
Mặt khác, chúng ta cũng nên
chú ý khi dùng từ đại từ nhân xưng để kể về một ai đó qua các giai đoạn của cuộc
đời. Ví dụ cùng là từ “he” trong tiếng
Anh, nhưng khi còn nhỏ thì ta dịch là “cậu
ấy” khi trưởng thành thì gọi là “anh ấy”,
khi già rồi thì gọi là “ông ấy” chứ
không nên cứ dùng một từ “ông ấy” cho
tất cả các giai đoạn.
- Hiểu vấn đề/hoàn cảnh: Tôi đọc nhiều sách thị trường mới “thần tốc” hiện nay, đặc biệt là những cuốn chuyên ngành như kinh tế, quản trị và phải nói rằng số sách chất lượng thật sự rất ít. Sách gốc hay là vậy mà đọc bản dịch tôi có cảm tưởng như đang nhai cát, khó chịu vô cùng. Chắc chỉ khá hơn Google dịch được một tí ti, không hiểu sao NXB lại cho phát hành. Nhiều cuốn đọc bản dịch là biết ngay người dịch chẳng hiểu mô tê gì về tác giả, hoàn cảnh cũng như văn hóa của nước đó, chẳng hiểu vấn đề mình đang nói, chẳng hiểu tác giả đang đùa hay thật, châm biếm hay nghiêm túc… Vậy nên trước khi dịch tác phẩm nào, xin các bạn cố gắng hiểu tác giả đã, hiểu hoàn cảnh sáng tác,… rồi hãy bắt tay vào làm. Chỗ nào bản thân không hiểu thì phải tìm hiểu. (Tôi cho rằng có nhiều người muốn tên mình in trên sách nên thuê người dịch đại càn, cốt là phải nhanh. Ngặt nỗi còn thuê nhiều người khác nhau, mỗi người một đoạn nên các chương trong sách văn phong khác nhau hẳn, lỗi cũng khác nhau thể hiện rõ mồn một là cả đám dốt chụm đầu vô “nấu lẩu” rồi điền tên một kẻ đại diện nào đó lên bìa sách để kiếm tiền. Thật là vô đạo đức.) Nên tôi khuyên các bạn luôn, trước khi mua sách thì nên đọc một vài trang ngẫu nhiên, nếu thấy văn phong dễ hiểu, thấy thích rồi hãy mua, không thì lại vô tình thành người quyên tiền nối giáo cho giặc, về tới nhà lại tức anh ách.
- Vấn đề cuối cùng tôi muốn nhân đây đề cập luôn bằng một từ khá thời thượng: thảm họa âm nhạc. Trong khuôn khổ bài này tôi chỉ bàn đến ca từ, lời nhạc. Vâng, thảm họa hơn một nửa là từ những ca từ “nghèo” hơn cả trang phục của ca sĩ, lặp đi lặp lại, lố lăng, nhàm tai,… Nghe cứ như là nghe chúng nó chửi nhau. Và bọn ác vẫn đang ngày đêm rót cái thứ cặn bã đó vào lỗ tai của con em chúng ta để đầu độc những đầu óc trẻ thơ tội nghiệp. Lỗi do nhạc sĩ, ca sĩ ư? Tôi nghĩ rằng hơn một nửa là do khán giả. Khán giả dễ dãi thì chúng nó mới sống được. Mà không nghe nhạc Việt thì ta lại chuyển qua nhạc Hàn, nhạc Hoa với âm điệu hay, ca từ đẹp. Hoặc là chuyển qua nhạc Âu Mỹ mạnh mẽ, ca từ tự do. Cá nhân tôi thích một ví dụ tiêu biểu về ca từ đẹp là Châu Kiệt Luân. Những bài hát của anh luôn được trau chuốt ca từ rất cẩn thận, cả về ý nghĩa, âm vần, giai điệu. Hy vọng khi mọi người dân đòi hỏi cao hơn thì văn hóa của ta cũng phát triển hơn.
Cuối cùng, nếu đoạn trên có lỗi đánh máy nào tôi chưa kịp sửa chữa,
mong các bạn phản ánh liền, coi như là một cách giúp tôi và cũng giúp mọi người
bắt đầu văn hóa tốt đẹp hơn: văn hóa KHÉO DÙNG TIẾNG VIỆT.
Ngày 16 tháng 02 năm 2012.
Người viết: Ken
Bài viết hay lắm!
Trả lờiXóa(Mình mới đọc phần của Ken thôi hehe)
Cảm ơn Ken nhiều nha!
Cứ lưu lại rồi từ từ đọc thôi. Cả chương sách mà. Gõ hết 3 tiếng đồng hồ luôn. :))
Trả lờiXóaNể cậu thật ấy, Ken à! ;)
Trả lờiXóaCảm ơn cậu về bài viết này. Tớ cũng tự soi lại mình được rất nhiều!
Thiệt công fu. Mới biết hóa ra mình còn chưa thuộc hết tiếng mẹ đẻ
Trả lờiXóaThankiu thankiu! :D
Trả lờiXóaCó bạn Duy comment mà ko hiểu sao không hiển thị. Ken gửi lại vậy. Nội dung như bên dưới:
Trả lờiXóaBài viết này cụ Nguyễn Hiến Lê viết quá rõ ràng và chi tiết.
Tui rất đồng tình với ý của cụ Nguyễn Hiến Lê khi cho rằng cần phải tra từ điển tiếng Việt để có thể hiểu rõ một từ mới lạ nào đó. Nói về từ điển, trước tiên, gửi các bạn bản online Việt Nam tự điển của Hội Khai Trí Tiến Đức, một cuốn từ điển tiếng Việt uy tín và hay nhứt của Vn trước 1975 (và có thể đến tận bây giờ): http://www.vietnamtudien.org/vntd-kttd/index.html
Và trên thị trường hiện nay có một cuốn từ điển tiếng Việt mà bản thân tui thây rất tốt, đó là cuốn từ điển tiếng Việt của ban biên soạn New Era. Thiết nghĩ bạn nào chưa có cuốn từ điển tiếng Việt nào ở nhà thì nên mua cuốn này.
Ngoài ra cần phải tham thảo thêm từ điển Hán-Việt nữa, vì từ Hán-Việt trong tiếng Việt ta rất nhiều. Nói về từ điển Hán-Việt thì có cuốn của Đào Duy Anh có vẻ là ổn nhứt cho đến hiện giờ (ngoài cuốn đó còn có cuốn của Thiều Chửu nhưng cuốn của Thiều Chửu th1ch hợp cho những ai học tiếng Hán hơn). Cuốn Hán-Việt từ điển của Đào Duy Anh ở ngoài có bán sách, nhưng tui cũng đưa ebook luôn cho những ai quan tâm: http://www.mediafire.com/?ngd9nwubmuuui94
Về đề tài tiếng Việt, hồi trước tui cũng có viết một bài nho nhỏ để giúp mọi người lưu tâm hơn một chút mà dùng tiếng Việt cho chuẩn xác:
http://chiecnon.wordpress.com/2011/01/14/ve-su-bien-doi-ngu-nghia-cua-tieng-viet-ngay-nay/